aoc benhtieudem.com.vn itsme f-idol.vn https://seotime.edu.vn/duoc-lieu-duoc-co-truyen.f38/ caodangvtc.edu.vn

Cấp cứu ngừng tim phổi cơ bản trong điều kiện không có trang bị

Cấp cứu ngừng tim phổi
  • Khai thông đường thở cho bệnh nhân:

Bệnh nhân được đặt nằm ngửa trên nền cứng, đầu và cổ ở tư thế ưỡn tối đa, mặt quay về một bên. Sở dĩ phải làm như vậy vì khi ngừng tim, các trương lực cơ mất đi khiến cho xương hàm dưới và gốc lưỡi rơi xuống chèn lấp đường thở của nạn nhân cản trở động tác hô hấp nhân tạo. Người cấp cứu dùng tay mở miệng bệnh nhân ra, dùng các ngón tay móc sạch đờm dãi và dị vật nếu như có thể lấy được. Với các dị vật ở sâu và khó lấy, không nên cố lấy dị vật vì làm mất thời gian và có thể đẩy dị vật vào sâu thêm hoặc gây tắc đường thở hoàn toàn. Có thể áp dụng nghiệm pháp Heimlich để làm bật các dị vật đường thở ra ngoài. Nghiệm pháp Heimlich được tiến hành như sau:

Người cấp cứu ôm sốc nạn nhân lên từ phía sau, một bàn tay thu lại thành nắm đặt ngay dưới mũi ức của nạn nhân, bàn tay thứ 2 đặt chống lên bàn tay thứ nhất, ôm sốc bệnh nhân lên sao cho nắm tay thúc mạnh vào thượng vị hướng về phía lồng ngực của bệnh nhân. Nếu nạn nhân quá to lớn không thể sốc lên được, đặt nạn nhân nằm ngửa trên nền cứng, người cấp cứu ngồi cưỡi trên người nạn nhân, hai bàn tay đặt chống lên nhau trên vùng thượng vị của nạn nhân thúc mạnh về phía ngực. Nguyên lý của nghiệm pháp là làm tăng áp lực trong lồng ngực một cách đột ngột. Nhưng không nên làm nghiệm pháp này khi dạ dày đầy vì có thể gây trào ngược, cũng không nên làm cố nhiều lần nếu không lấy được dị vật vì sẽ làm mất thời gian. Với trẻ em, có thể cầm 2 chân dốc ngược bệnh nhân rồi dùng tay vỗ mạnh vào vùng giữa 2 xương bả vai cũng có thể làm bật được dị vật ra ngoài.

  • Thổi ngạt cho bênh nhân:

Có thể chọn kỹ thuật thổi miệng-miệng hoặc miệng -mũi. Thông thường thổi miệng-miệng có hiệu quả hơn, người cấp cứu dùng 1 bàn tay đặt lên trán bệnh nhân ấn ngửa đầu bệnh nhân ra sau đổng thời dùng ngón trỏ và ngón cái kẹp mũi bệnh nhân lại, các ngón tay của bàn tay thứ 2 vừa nâng hàm dưới của bệnh nhân lên trên ra trước đổng thời mở miệng bệnh nhân ra, người cấp cứu sau khi hít sâu áp chặt miệng vào miệng nạn nhân rổi thổi hết không khí dự trữ qua miệng vào phổi của nạn nhân. Nếu nạn nhân quá to lớn, có thể áp dụng thổi miệng-mũi, người cấp cứu vừa dùng bàn tay vừa nâng xương hàm dưới của bệnh nhân lên trên ra trước vừa khép miệng bệnh nhân lại, bàn tay thứ hai đặt lên trán nạn nhân ấn ngửa đầu nạn nhân ra sau, sau khi đã hít sâu áp chặt miệng vào mũi nạn nhân rổi thổi hết không khí dự trữ qua mũi vào phổi. Tần số thổi nên từ 12- 15 lần/phút. Nếu làm đúng kỹ thuật, vói mỗi lần thổi như vây, sẽ thấy lổng ngực bênh nhân nở vổng lên. Nếu làm không đúng kỹ thuật sẽ thấy lổng ngực bênh nhân không nở theo nhịp thở đổng thòi thấy bụng bênh nhân to dần lên theo từng nhịp thổi hoặc không khí phì ra ngay trên mặt bênh nhân. Động tác thổi ngạt giúp đưa không khí cùng vói oxy vào trong phổi nạn nhân, động tác thở ra thụ động sau khi ngừng thổi không khí vào giúp không khí trong phổi thoát ra ngoài mang theo CO2.

  • Ép tim ngoài lồng ngực:

Người cấp cứu chọn vị trí thích hợp ở một bên bệnh nhân, một bàn tay đặt dọc theo chính giữa 1/2 dưới của xương ức bệnh nhân, bàn tay thứ hai đặt vuông góc lên bàn tay thứ nhất, dùng lực của hai tay, vai và thân mình ép vuông góc xuống lồng ngực của bệnh nhân sao cho xương ức lún xuống từ 4-5 cm, sau đó nhấc tay lên mà tiếp tục nhịp ép thứ hai, tần số lên khoảng 80-100 lần /phút. Với mỗi nhịp ép tim đúng kỹ thuật sẽ phải bắt được động mạch bẹn hoặc động mạch cảnh này. Phải ép như vậy thì mới có thể làm tống máu lên vòng tuần hoàn nhờ có lực ép trực tiếp lên tim kết hợp với làm thay đổi áp lực trong lồng ngực. Động tác này sẽ đưa máu từ thất phải lên trao đổi khí ở phổi, đưa máu từ thất trái lên tuần hoàn vành và tuần hoàn não, còn máu sẽ thụ động trở về nhĩ khi ngừng ép khiến tim giãn ra và áp lực trong lồng ngực giảm xuống.

Hai động tác ép tim và thổi ngạt phải được thực hiện xen kẽ với nhau một cách nhịp nhàng, có thể thổi một lần rồi ép tim 5 lần hoặc thổi 2-3 lần rồi ép tim 15 lần. Cách thứ hai tốt hơn vì tạo được áp lực tống máu cao hơn nhưng khiến người cấp cứu chóng mệt hơn.

Đó là khi việc cấp cứu đạt được mục đích cung cấp được máu và oxy đến cho tuần hoàn não, tuần hoàn vành cũng như tổ chức tế bào. Biểu hiện lâm sàng là niêm mạc môi bệnh nhân ấm và hồng trở lại, đồng tử co lại nếu thời gian thiếu oxy não chưa lâu và còn khả năng hồi phục. Càng tốt hơn nếu như có các dấu hiệu của sự sống như: thở trở lại, tim đập lại, ý thức tỉnh trở lại… Cần lưu ý là chỉ các dấu hiệu cung cấp được oxy cho tổ chức tế bào ( môi ấm hồng trở lại) mà chưa có dấu hiệu tổn thương nặng nề ở tổ chức não ( đồng tử co lại).Vì vậy cần kiên trì cấp cứu, đồng thời gọi các đội cấp cứu y tế hoặc vừa cấp cứu vừa vận chuyển bệnh nhân đến một cơ sở y tế gần nhất.

Sốc có thể gây tử vong nhanh. Sốc kéo dài có thể dẫn đến hội chứng suy đa phủ tạng. Vì vậy cần chẩn đoán sớm để điều trị sớm. Sốc cần phải được xử trí ngay và phải được vận chuyển đến một đơn vị hồi sức cấp cứu bằng ô tô có trang bị.
Tiên lượng phụ thuộc vào nguyên nhân, cơ địa, sự can thiệp sớm và có hiệu quả. Huyết áp bình thường không loại trừ sốc. Trừ sốc do tim, truyền dịch là biện pháp đầu tiên cần làm.
Thuốc và trang bị cấp cứu cần thiết: dung dịch cao phân tử, adrenalin, dobutamin, dopamin, isoprenalin, natriclorua 0,9%, natribicarbonat 1,4%.

Sốc chấn thương và điều trị

1. TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG:

1.1. Triệu chứng thần kinh:

Bệnh nhân trong tình trạng kích thích (lúc đầu), sau chuyển sang giai đoạn ức chế nhưng tri thức vẫn còn, phản xạ giảm.

1.2. Toàn thân:

Mặt tái, tím các đầu chi, trên da có những mảng thâm tím, ấn vào thì nhạt đi và chậm trở lại như cũ; nhiệt độ giảm, da lạnh, người lạnh, vã mồ hôi.

1.3. Tuần hoàn:

+ Mạch nhanh, huyết áp hạ (tối đa < 90 mmHg), kẹt và dao động, có khi không có mạch và huyết áp. Điện tim: T âm hoặc dẹt, ST âm.
+ Áp lực tĩnh mạch trung tâm:
– Âm: Sốc giảm thể tích máu, sốc nhiễm khuẩn, sốc phản vệ.
– Bình thường hay tăng.
+ Sốc do tim (suy tim cấp, ép tim) thường kèm theo: tĩnh mạch cổ nổi, phù phổi cấp.
+ Sốc có suy thận: tăng thể tích máu.

1.4. Hô hấp:

Nhịp thở nhanh dẫn tới tình trạng giảm CO2, về sau thở nhanh nông.

1.5. Tiết niệu:

Lượng nước tiểu giảm. Theo dõi lượng nước tiểu có thể cho biết tiên lượng của bệnh nhân. Bình thường lượng nước tiểu bài tiết 1 – 1,5ml trong 1 phút. Vô niệu: dưới 30ml trong 3 giờ đầu.
Nguyên nhân gây giảm niệu là do co thắt mạch máu thận, tăng tiết yếu tố chống lợi tiểu của thùy sau tuyến yên (ADH), do HA thấp vì mất máu, rối loạn chức năng ống thận do lắng đọng myoglobine trong điều kiện toan máu và những sản phẩm hủy hoại ở những tổ chức dập nát.

1.6. Sinh hóa:

Toan chuyển hóa, kali máu tăng.

2. NHỮNG XÉT NGHIỆM ĐẦU TIÊN CẦN LÀM.

2.1. Xét nghiệm có ý nghĩa tiên lượng:

Định lượng lactat máu, điên tim, Xquang tim phổi, tỷ lệ prothrombin, fibrinogen máu, tiểu cầu, HC, urê, creatinin máu, GOT, GPT, CPK.

2.2 Xét nghiệm tìm nguyên nhân:

Siêu âm tim, cấy máu, nội soi dạ dày.

2.3. Đo cung lượng tim:

bằng ống thông Swan-ganz.

chứng bệnh tả là chứng bệnh lây truyền cấp tính trục đường tiêu hóa do phẩy khuẩn Tả (Vibrio Cholerae) đội ngũ huyết thanh 01, 0139 dẫn đến ra sở hữu miêu tả lâm sàng là đi tả tàn ác dội và nôn thốc nôn tháo liên tiếp không tự kìm giữ được, nhanh chóng dẫn đến mất nước và điện giải, trụy tim mạch và tử vong trường hợp người bệnh không được chữa trị kịp thời và đúng cách.

căn bệnh lây trực tiếp hoặc gián tiếp qua phân người bệnh và được xếp vào hàng ngũ căn bệnh tối nguy hiểm, dễ dẫn đến thành dịch to.

một.Dịch tễ

chứng bệnh tả ghi nhận trước nhất tại Việt Nam vào năm 1862, sau chậm triển khai mắc phải đa dạng vụ dịch tả diễn ra khắp cả nước. Không những thế hiện nay, chứng bệnh còn lưu hành chủ yếu ở khu vực phía Nam đồng bằng sông Cửu Long

-mầm bệnh: là phảy khuẩn tả Vibrio Cholerae hình dấu phảy, gram âm, sở hữu trình độ di động nhờ lông ở một cực, không sinh nha bào. Chúng gây căn bệnh nhờ độc tố Choleratoxin

-nguồn bệnh: là bệnh nhân và người lành có vi khuẩn

-đường lây: trực tiếp hoặc gián tiếp qua con đường tiêu hóa

Sau bị bệnh, tả để lại miễn dịch tầm thường bền vững.

Dịch dễ bùng phát và lan bao la tại vùng dân cư mang mức sinh hoạt tốt, điều kiện vệ sinh xoàng xĩnh, môi trường ô nhiễm.

hai.Triệu chứng lâm sàng

Thể tiêu biểu

-thời kỳ nung chứng bệnh siêu ngắn, tối đa 5 ngày. Đây là thời khắc ko sở hữu thể hiện lâm sàng

-thời kỳ khởi phát: khởi phát bất ngờ bằng ỉa chảy phân lỏng mà không với tiền triệu

-thời kỳ toàn phát:

+tiêu chảy cấp: đi ngoài thuận tiện, không đau bụng, ko mót rặn, số lần phổ thông tới 30 lần/ngày. Phân toàn nước đục lờ, mang đa dạng hạt trắng xám như gạo, trong Đó cất phẩy khuẩn tả.; Mùi tanh nồng

+nôn: mắc phải sau đi tả vài giờ, nôn thốc nôn tháo dễ, ko kìm được

+mất nước và điện giải: là kết quả của nôn và ỉa chảy

Khát nước, mặt hốc hác, mắt trũng môi khô

Da khô nhăn nheo, độ đàn hồi da giảm hoặc mất (Caspe (+))

Co rút cơ do toan máu và hạ kali máu

Thiểu niệu rồi vô niệu

Mạch nhanh nhỏ, huyết áp tụt...

+bệnh nhân thường không sốt, người tỉnh giấc nhưng trường hợp mất nhiều nước mang thể mỏi mệt, tơ mơ

-thời kỳ lui bệnh: bệnh nhân hồi phục thời gian nhanh ví như chữa trị kịp thời. Ỉa chảy ngừng sau 3-5 ngày.

Thể lâm sàng khác

-thể nhiễm khuẩn không biểu hiện

-thể đi tả nhẹ

-thể tối cấp

-thể tả khô

-thể xuất huyết

-thể tả ở con nhỏ

3.Triệu chứng cận lâm sàng

-xét nghiệm đặc hiệu:

Phân lập vi khuẩn tả trong phân hoặc chất nôn

Soi phân duới kính hiển vi nền đen

miễn dịch huỳnh quang đãng trực tiếp

-xét nghiệm huyết học, sinh hóa khác:

với mức độ cô đặc máu

Điện giải đồ Na, Cl sở hữu thể giảm nhẹ

Toan hóa máu

Ure, Creatinin máu tăng, Glucose máu tránh

4.Điều trị

đáp ứng điện giải theo chừng độ mất nước

-TH ko mất nước: bổ sung dịch bằng dung dịch ORS uống tại nhà

<2 tuổi 50-100ml/ 1 lần đi tả

2-9 tuổi 100-200ml/ một lần đi tả

10 tuổi uống theo nhu cầu

-mất nước độ I,II: bù nước bằng ORS, trong 4 giờ đầu uống ít nhất bằng 7.5% P

Độ I 20ml/kg/4 giờ đầu

Độ II 80ml/kg/4 giờ đầu

Sau Đó tùy tiến triển để xử trí

-mất nước độ III: chữa trị tại viện, truyền nước với tốc độ nhanh

giả dụ mất nước nặng trĩu sở hữu sốc

phải truyền tĩnh mạch liền, mang thể cần truyền hai con đường tĩnh mạch với tốc độ nhanh

tốt truyền Ringer lactat hoặc Nacl 0,9%

Tốc độ truyền tính theo phương pháp sau:

-trẻ từ một tuổi trở lên và người to truyền 100ml/kg/3 giờ trong chậm triển khai 30ml/kg/ 30' đầu; 70ml/kg/ 30' tiếp

-trẻ<1 tuổi truyền 100ml/kg/5 giờ trong ngừng thi côngĐây 30ml/kg/1 giờ đầu, 70ml/kg/5 giờ tiếp theo. Cho uống thêm ORS 5ml/kg/giờ khi bệnh nhân uống được

nếu vẫn mất nước nặng trĩu tiếp tương truyền tĩnh mạch một lần nữa.

ví như hết choáng nhưng còn mất nước thì uống ORS 70-80ml/kg/4h

cung ứng Kali khi dịch truyền không Cung cấp Kali cần thiết

Kháng sinh giệt vi khuẩn, tránh lây lan

điều trị triệu chứng khác

↑このページのトップヘ