aoc benhtieudem.com.vn itsme f-idol.vn https://seotime.edu.vn/duoc-lieu-duoc-co-truyen.f38/ caodangvtc.edu.vn

Cây hoàng cầm
Tên khoa học là: Radix Scutellariae.
Thuộc họ hoa môi – Lamiaceae.

Đặc điểm thực vật:

cây hoàng cầm

Hoàng cầm thuộc loại cây thân thảo, sống nhiều năm. Thân có 4 cạnh, các lá mọc đối dài và rộng. Phiến lá hình mũi mác hẹp, gần như không cuống, mép nguyên và có lông.
Hoa hình môi và có màu xanh lơ. Ở ngọn, hoa mọc hướng về 1 phía. Mỗi nách có 1 hoa.

Bộ phận dùng:

Rễ cây hoàng cầm.

Thu hái:

Lấy rễ vào mùa xuân hoặc mùa thu.
Rễ đào về, cắt bỏ rễ con, đem phơi đến gần khô thì đập bỏ lớp vỏ ngoài rồi lại phơi khô.

Đặc điểm của dược liệu:

Dược liệu hình chuỳ, có vết tích của rễ con, có thớ gố vặn. Mặt ngoài dược liệu có màu vàng thẫm, giòn, dễ bẻ. Khi bẻ ra , bên trong có màu vàng, ở giữa có lõi màu nâu hay các vụn mục màu nâu đen.
Nếu ẩm, mặt bẻ dược liệu sẽ chuyển sang màu xanh vàng.
Vị dược liệu đắng.

Chế biến:

Rễ hoàng cầm được ngâm nước 1 lúc vớt ra, để thành đống qua 1 đêm cho mềm sau đó thái lát phơi khô.
Chú ý : không nên phơi dược liệu lâu dưới nắng to, khi đó màu dược liệu sẽ bị sẫm.
Chế “ tửu hoàng cầm”: hoàng cầm thái lát, đem tưới rượu cho ướt rồi trộn đều, dùng lửa nhỏ sao qua rồi lấy ra phơi khô.
100g hoàng cầm cần 10 -15 g rượu.
Chế “ hoàng cầm thán” : hoàng cầm thái lát, đem sao ở lửa cho đến khi cháy xém nhưng vẫn tồn tính, phun nước vào sau đó lấy ra phơi khô.

Thành phần hoá học:

Rễ có chứa các flavonoid như baicalein, baicalin, oroxylin A, baicalein – 7 – O – glucosid,…. Ngoài ra còn có tanin.

Công dụng:

Rễ hoàng cầm có công dụng hạ nhiệt, giảm các triệu chứng của bệnh cao huyết áp, làm chậm nhịp tim.
Tác dụng làm giảm co thắt cơ trơn ruột, an thần, kháng khuẩn.
Dạng cồn thuốc để chữa cao huyết áp, mất ngủ, đau đầu.
Dùng kéo dài không thấy tác dụng phụ.
Hoạt chất Baicalein trong hoàng cầm đã được chiết xuất và chuyển dạng este phosphat, dùng trong chữa các bệnh dị ứng.
Y học dân tộc, hoàng cầm dùng để chữa sốt, mụn nhọt, tiêu chảy, chảy máu cam, động thai.

Cây xạ can

Tên khoa học là: Rhizoma Belamcandae.
Thuộc họ la dơn – Iridaceae.

Đặc điểm thực vật:

cây xạ can

Xạ can hay còn gọi là cây dẻ quạt là loại cây thảo, sống dai. Các lá mọc thẳng đứng thành 2 dãy và xếp chồng lên nhau.
Quả nang, hình trứng có chứa các hạt xanh đen hình cầu và bóng.
Cây mọc hoang ở nhiều nơi trong nước ta và được trồng làm cảnh.

Bộ phận dùng:

Thân rễ cây xạ can.

Chế biến:

Đào thân rễ đem về rửa sạch, thái miếng và phơi khô.

Thành phần hoá học:

Các isoflavonoid ở dạng tự do hoặc dạng liên kết với Glycosid; các dẫn xuất có cấu trúc triterpenoid kiểu Iridal.

Tác dụng dược lý, công dụng:

Xạ can có khả năng ức chế sự tạo thành các prostagladin E2 ở chuột thí nghiệm.
Chữa viêm họng, ho nhiều đờm, khó thở.

Cây tô mộc

Tên khoa học: Lignum Caesalpiniae.
Thuộc họ đậu – Fabaceae.

Đặc điểm thực vật:

cây tô mộc

Tô mộc hay còn gọi là cây gỗ vang  là loại cây gỗ cao, thân cây có gai. Lá kép lông chim chẵn; mặt trên của lá nhẵn, mặt dưới lá có lông; cánh hoa có lông.
Quả dẹt, nở về phía đỉnh, nhô ra thành mỏ, bên trong có chứa 4 hạt.
Cây mọc hoang.

Bộ phận dùng:

Gỗ lõi của cây tô mộc già, lúc gỗ đã có màu vàng đỏ.
Chế biến:
Chặt cây và cưa thành các khúc dài khoảng 20cm, sau đó chẻ nhỏ thành các thanh rộng, dày khoảng 0,5 cm. Gỗ chẻ theo chiều dọc của thớ cây.
Dược liệu không mùi, có vị hơi chát.

Bột dược liệu:

Bột tô mộc có màu da cam.

Thành phần hoá học:

Các hợp chất của neoflavonoid gồm có brazilin, 3-O- methylbrazilin, brazilein; trong đó brazilin là tinh thể màu vàng.
Các dẫn xuất của chacol.

Tác dụng, công dụng:

Cao chiết bằng methanol của gỗ tô mộc có tác dụng ức chế miễn dịch mạnh, ức chế enzym xanthin oxydase.
Tác dụng tăng và kéo dài thời gian tác dụng của hoocmon tuyến thượng thận đối với ruột đã cô lập của chuột bạch hay tử cung cô lập, tác dụng co mạch đối với ếch.
Tác dụng đối kháng với các chất kích thích thần kinh trung ương, gây ngủ cho thỏ và chuột bạch.
Trong đông y, tô mộc dùng để rối loạn kinh nguyệt, ứ huyết sau sinh, đau vùng ngực.
Chú ý thuốc không dùng cho phụ nữ có thai.

XỬ LÍ NGỘ ĐỘC MỘT SỐ THỨC ĂN UỐNG
1. Cóc: ở nước ta có nhiều vùng bắt cóc để lấy nhựa hoặc lấy thịt làm thuốc cam và lấy thịt làm thức ăn cho trẻ suy dinh dưỡng. Nên chú ý rằng da, ruột, gan, phổi, trứng, đầu cóc đều rất độc. Chất gây độc là bufotoxin.

Ngộ độc do ăn cóc

Triệu chứng: đầy bụng, buồn nôn, tim đập chậm( 40-50 lần/ phút) vô niệu, nặng hơn thì khó thở và chết.
Xử trí: gây nôn bằng siro Ipeca, hoặc dung dịch phèn chua 4%. Cho uống nước cam thảo, nước luộc đậu xanh và lòng trắng trứng để giải độc, chuyển đi bệnh viện nếu nặng.
2. Cá nóc: có nơi gọi là cá cóc.

Cá nóc

Có hơn 60 loại trong đó 30 loại là có chất độc. Ở Việt Nam có 20 loại, cả nước ngọt và nước mặn. Chất độc là ciguatoxin. Khi bị cá cắn hoặc làm cá xây xát vào tay xước da sẽ bị nhiễm độc. Chất độc có nhiều ở gan, trứng, mật. Tỉ lệ người ăn cá nóc bị ngộ độc chiếm 60 % trong 24 giờ.
Triệu chứng: sau khi ăn có cảm giác đau đầu, tê lưỡi, tê môi, tê các đầu ngón, cảm giác kiến bò, tiếp theo là co thắt cơ ngực, cơ bụng, khó thở, chân tay liệt, trụy mạch rồi chết.
Xử trí: phải bằng nhiều cách gây nôn ngay. Cho uống 2 cái lòng trắng trứng, hoặc dùng gạo rang cháy đen đốt thành than tán nhỏ cho uống 30 g. Rồi đưa ngay đến bệnh viện.
3. Mật cá trắm: cá trắm là loại cá nước ngọt rất quen thuộc với chúng ta, nhưng mật của chúng rất độc. Chất độc là Cyprinol. Độc tố gây nên tổn thương viêm gan, viêm thận cấp và chết vì suy thận.

Ngộ độc mật cá trắm

Triệu chứng: rối loạn tiêu hóa: đau bụng, nôn mửa, tiêu chảy và suy thận cấp: đái ít, vô niệu; suy gan cấp: da mắt vàng.
Xử trí: ngoáy họng cho nôn, uống nhiều nước cho chất độc loãng ra. Dùng than hoạt thấm hút. Magie sunfat: 30gr cho tẩy ruột. Nếu có điều kiện tiêm furosemit tĩnh mạch liều cao, có thể tiêm 10 ống, mỗi ống 20 mg để cứu suy thận. Sau đó chuyển đi viện để chạy thận nhân tạo sớm.
4. Sắn, măng: sắn, măng là hai thứ đồng bào trung du, miền núi cao, nhất là bộ đội, công an thường ăn, nhưng phải chú ý vì trong đó có chất độc: axit cyanhidric ( HCN) ức chế men cytochrom oxydaza.

Món ăn gây độc

Phân biệt sắn độc với sắn lành: sắn nhỏ, trong, dẻo độc hơn những củ to, bở, nhiều bột; sắn càng đắng càng nhiều độc. Sắn được coi là độc nếu chứa trên 7 mg HCN trong 100 g sắn. Chỉ tới 20 mg là bị ngộ độc, 50 mg có thể chết. có vụ ngộ dộc sắn đến 800 người.
Măng tươi cũng có chất độc HCN. Măng độc thường là măng mọc trái mùa và có vị đắng. Trước khi dùng phải thái nhỏ và ngâm trong nước nhiều giờ để hòa tan chất độc.
Triệu chứng: là triệu chứng của ngộ độc HCN, sau khi ăn thấy nhức đầu, nôn nao, chóng mặt, mặt nóng bừng, buồn nôn. Sau đó vật vã, đau bụng, nôn ói, rồi khó thở, mạch nhanh, co giật, bất tỉnh và chết.
Xử trí: tìm nhiều cách gây nôn, cho uống nhiều nước đường, nước mật, nước mía, hoặc bột đậu xanh sống để thấm hút và làm loãng chất độc. Sau đó chuyển nhanh đi viện để rửa dạ dày, dùng thuốc giải độc( xanh metylen, Na hiposulfit) sớm cho nạn nhân. Nếu ở trong phòng mới phun thuốc diệt chuột ( thuốc này có chứa HCN) thì phải đưa nạn nhân ra ngay vì HCN có thể ngấm qua đường hô hấp và qua da.
5. Rượu: ngộ độc rượu thường gặp. Gọi là rượu, bao gồm những thức uống có chứa etylic. Nhẹ như bia là 10 độ cồn etylic, rượu nặng 40-50 độ, đều chứa chất độc cao. Liều gây say: trong máu có 1-1,5 g cồn etylic trong 1 lít. Liều chết người: 4-6 g cồn etylic/ l máu. Rượu thấp độ như bia uống nhiều cũng bị say, có khi nguy hiểm đến tính mạng. Gan làm nhiệm vụ khử độc, biến rượu thành axetat, nước và CO2 thải ra ngoài, một giờ chỉ khử được 7 g etylic vào khoảng nửa chai bia 33 hoặc nửa chai rượu 40 độ. Nếu uống quá nhiều, gan không khử độc kịp, trong một thời gian ngắn, cơ thể bị nhiễm độc rượu cấp tính.
Triệu chứng: giai đoạn đầu là kích động nói nhiều, nồng độ cồn trong máu lúc này là 50-150 mg%. Giai đoạn 2: mất phối hợp, đi chân nam đá chân xiêu, nồng độ lúc này 10-250 mg%. Giai đoạn 3: hôn mê, nồng độ rượu máu khoảng 250 mg%, mất phản xạ, đồng tử giãn, mạch nhanh, huyết áp hạ. Nếu nồng độ cồn trong máu từ 400-500 mg% thì sẽ chết.
Xử trí: gây nôn. Tẩy, thụt. Càng nôn nhiều càng tốt, giải độc bằng đậu xanh sống 40g giã nát hòa với một chút nước lọc bỏ bã cho uống. Hoặc khoai lang sống giã nát hòa với nước gạn bỏ bã lấy nước uống. Cho uống nhiều nước lợi tiểu như rau má, bồ đề, rễ cỏ tranh.
Nếu nặng phải đưa đến viện để rửa dạ dày, chống hạ đường máu bằng cách truyền bù dịch, chống toan máu bằng dung dịch NaHCO3 0,14%.

↑このページのトップヘ